Chào mừng bạn đến với Blog của lớp Kế toán 33A - Khoa Kinh Tế - Đại học Nông Lâm TPHCM
The lovable, funny and solidary community of Class Accounting A (DH07KEA)- Faculty of economics - Nong Lam University
Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009
Ý nghĩa của PEPSI
Slogan của PEPSI qua các thời kỳ
1939: "Twice as Much for a Nickel"
1940: "BIGGER BETTER"
1950: "More Bounce to the Ounce"
1950: "Any Weather is Pepsi Weather"
1957: "The Light Refreshment"
1958: "Be Sociable, Have a Pepsi"
1961: "Now It's Pepsi for Those Who Think Young"
1963: "Come Alive, You're in the Pepsi Generation".
1967: "(Taste that beats the others cold) Pepsi Pours It On".
1969: "You've Got a Lot to Live, Pepsi's Got a Lot to Give".
1973: "Join the Pepsi people (feeling free)".
1975: "Have a Pepsi day".
1979: "Catch that Pepsi spirit". David Lucas composer
1981: "Pepsi's got your taste for life".
1983: "Pepsi Now! Take the Challenge!"
1984: "The Choice of a New Generation".
1986: "We've Got The Taste" (Commercial with Tina Turner)
1991: "Gotta Have It."/"Chill Out"
1995: "Nothing Else is a Pepsi".
1997: "GeneratioNext"." With The Spice Girls "
1999: "Ask for More"/"The Joy of Pepsi-Cola".
2003: "It's the Cola"/"Dare for More".
2005: "Wild Thing"/"Ask For More" (With Jennifer Lopez & Beyoncé Knowles)
2007: "More Happy"/"Taste the one that's forever young".
Sưu tầm từ nhiều nguồn
Thứ Hai, 18 tháng 5, 2009
KẾT QUẢ VÒNG THI CHUNG KHU VỰC CHÂU Á VỀ “Kinh doanh bán lẻ Châu Á năm 2009”
Cuộc thi “Kinh doanh bán lẻ” khu vực Châu Á được tổ chức vào ngày 16/5/2009, tại Trường Đại Học Quốc Gia Đài Loan (National Central University), Đài Loan. Tổng số đội tham dự là 6 đội đến từ 6 nước Châu Á: Đài Loan, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia và Việt Nam. Mỗi đội gồm ba thành viên, là sinh viên đang học ở các trường đại học.
Đội Viêt Nam gồm: Nguyễn Ngọc Thảo (Khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm TPHCM), Nguyễn Phương Mai (Đại học Ngân Hàng TPHCM) và Lương Hoàng Phan (Đại Học Ngoại Thương) dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Ngãi, Trưởng Khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm TPHCM và ThS Lê Nhật Hạnh, giảng viên Khoa Kinh Tế, Đại học Nông Lâm TPHCM, đang nghiên cứu sinh tại Trường Đại Học Quốc Gia Đài Loan.
Kết quả cuộc thi
Cuộc thi bao gồm hai phần: (1) Thi online trên phần mềm “Kinh Doanh Bán Lẻ”, dựa trên các điều kiện kinh doanh khác nhau, các đội sẽ quyết định chiến lược kinh doanh hiệu quả nhất. Phần thi này bao gồm bốn vòng, tương ứng với kinh doanh theo bốn mùa khác nhau trong năm. Kết quả sau cùng là tổng kết quả của bốn vòng. Sau vòng 1, Việt Nam ở vị trí thứ 3, vòng 2 đạt vị trí thứ 4, vòng 3 dạt vị trí thứ tư. Đặc biệt vòng 4, Việt Nam đột phá chiến lược kinh doanh,kết quả vượt qua tất cả các đội, lên vị trí thứ nhất. Kết quả sau cùng sau bốn vòng thi, Việt Nam đứng Hạng Nhì trong phần thi này. Kết quả của phần thi này là kết quả phân loại sau cùng. (2) Thi thuyết trình chiến lược kinh doanh của mình, kết quả thật bất ngờ, Việt Nam dẫn đầu trong phần thi này, vượt cả những đội Tiếng Anh rât mạnh như: Singapore và Đài Loan.
Phần thưởng Hạng Nhì cho Đội Việt Nam là 3000 USD.
Đội đạt hạng Nhất là Đài Loan, giải thưởng 10.000 USD.
Nhận xét của người hướng dẫn (TS. Nguyễn văn Ngãi)
So với các đội bạn, Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc thi, Việt Nam tham dự lần thứ 2, trong khi đội bạn đã tham dự lần thứ 9. Kết quả thật bất ngờ, mặc dù không đạt vô địch nhưng được Ban tổ chức và đội bạn đánh giá rất cao. Qua cuộc thi này chứng minh Việt Nam có nhiều tiềm năng, nếu được tiếp tục đầu tư và tích lũy kiến thức thì đội Việt Nam có cơ hội giành vị trí vô địch trong những năm tới. Sau kỳ thi này, Khoa Kinh Tế, Trường Đại học Nông Lâm sẽ thông tin rộng rãi kỳ thi này đến sinh viên nhiều trường đại học ở Việt Nam và chuẩn cho ký thi năm tới sẽ có nhiều ứng viên hơn, đến từ nhiều trường đại học của Việt Nam; và có kế hoạch huấn luyện cụ thể cho đội tuyển năm tới. Kinh nghiệm rút ra từ cuộc thi này là “đầu tư lâu dài”, “đột phá”, “hợp tác giữa các thành viên trong đội” và “tự tin” là những yếu tố quyết định thành công.
Nguồn: website thạc sĩ Trần Đình Lý- Đại học Nông Lâm TPHCM
Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2009
iPhone đang chinh phục giới doanh nhân
Nếu như trước đây iPhone chỉ được coi là đồ chơi của giới trẻ sành điệu thì nay đã có nhiều CEO để mắt tới chiếc điện thoại này. Đã có người từng nói rằng iPhone sẽ không bao giờ chiếm lĩnh được thị phần BlackBerry (chiếc điện thoại chuyên dành cho giới doanh nhân), nhưng xem ra mọi thứ lại không đơn giản như vậy.
Tuy không có ác ý với chiếc iPhone nhưng Michael Loo, phó chủ tịch tập đoàn cung cấp thiết bị viễn thông Avaya, lại không nghĩ một ngày nào đó ông sẽ cầm trong tay chiếc smartphone này. “Mới đầu tôi thấy thật khó chấp nhận nó, chủ yếu là quan ngại về mức độ an toàn dữ liệu doanh nghiệp, rồi đến việc nó thiếu mất bàn phím”, Michael Loo nói về thời kỳ đầu khi chiếc iPhone ra mắt. Vào thời điểm đó, Avaya thậm chí còn từ chối hỗ trợ cho các nhân viên sử dụng iPhone tại nơi làm việc.
Còn giờ đây nhận thức này đã thay đổi. Tháng 7/2008, khi Apple chính thức công bố phiên bản phần mềm iPhone 3.0 với khả năng hỗ trợ bảo mật và e-mail doanh nghiệp tốt hơn, Avaya đã thay đổi quan điểm và bắt đầu bật đèn xanh cho nhanh viên sử dụng đại trà thiết bị này. Gần một năm qua, Avaya đã có gần 1000 nhân viên sử dụng iPhone trong tổng số 9.800 người có điện thoại di động.
Cũng giống Avaya, nhiều doanh nghiệp Mỹ vẫn còn “ác cảm” với iPhone. Chính tâm lý đó đã giúp cho BlackBerry luôn giữ ngôi vương trên thị trường smartphone doanh nghiệp. Giờ đây mảnh đất màu mỡ này đang dần có bóng dáng của iPhone. Trong một cuộc khảo sát 127 doanh nghiệp vừa và nhỏ mới đây của công ty tư vấn Osterman Research, có tới 20% doanh nghiệp nói rằng họ hỗ trợ iPhone trong năm 2008, 82% hỗ trợ BlackBerry và 66% hỗ trợ các thiết bị chạy trên hệ điều hành di động Windows Mobile của Microsoft. Tuy nhiên, khi được hỏi về kế hoạch hỗ trợ thiết bị di động trong năm 2009, 44% doanh nghiệp nói rằng họ sẽ đưa iPhone vào danh sách. Trong khi đó tỉ lệ hỗ trợ BlackBerry giảm xuống 75% và Windows Mobile xuống còn 64%.
Thông dụng hơn nhờ thân thiện
Thành công trên có được chủ yếu do Apple đã rất năng động trong việc tùy biến chiếc iPhone. Phiên bản nâng cấp phần mềm iPhone 3.0 mới nhất giúp cho chiếc điện thoại này thân thiện hơn với giới doanh nhân. iPhone 3.0 bổ sung thêm tính năng quản lý và bảo mật, rất thích hợp cho các doanh nghiệp lớn. “Chắc chắn trong năm nay và năm tới iPhone sẽ là đối thủ cạnh tranh nguy hiểm nhất của BlackBerry”, nhận định của Ted Schadler, phó chủ tịch hãng phân tích thị trường Forrester Research (FORR).
Ted Schadler chỉ ra rằng Oracle và Kraft Foods là hai ví dụ điển hình nhất trong trường hợp này. Tính tới tháng giêng năm 2009, Oracle có 4.000 nhân viên sử dụng iPhone trong tổng số 86.000 nhân viên trên toàn cầu. Trong khi đó, Kraft Foods có gần 2.000 nhân viên sử dụng iPhone (chiếm gần một nửa số người dùng di động của hãng). Theo dự đoán Ted Schadler, đến cuối năm 2009 Kraft sẽ có 5.000 nhân viên sử dụng iPhone.
Hầu hết đối tượng sử dụng đại trà iPhone đều là nhân viên. Người ta mua iPhone để truy cập vào dữ liệu hoặc mạng doanh nghiệp. Theo IDC, gần 40% số smartphone trên thị trường Mỹ trong năm 2008 được bán cho cá nhân chứ không phải là doanh nghiệp. Tuy nhiên, khoảng 7,3 triệu chiếc iPhone trong số này lại được sử dụng tại nơi làm việc. Cũng theo IDC, dự tính tới năm 2012 con số này sẽ tăng lên 43,5%, đạt 21,5 triệu chiếc. Kinh tế khó khăn khiến cho doanh nghiệp phải tiết kiệm chi tiêu. Chính vì thế việc nhân viên chia sẻ chi phí mua smartphone phục vụ công việc rất được hoan nghêng.
Theo iSuppli, trong năm 2008 có khoảng 173,6 triệu chiếc smartphone bán trên thị trường toàn cầu. Trong số này, Nokia bán được 60,5 triệu chiếc; RIM bán được 22,6 triệu chiếc; Samsung và Apple mỗi hãng bán được 13,7 triệu chiếc. Tuy nhiên, với các doanh nghiệp Mỹ hiện nay thì cấp bậc smartphone vẫn là: BlackBerry, Windows Mobile, và iPhone.
iPhone tiếp cận lãnh đạo doanh nghiệp
Sự chần chừ của doanh nghiệp đối với iPhone dần được thu hẹp nhờ xu hướng sử dụng iPhone của CEO hoặc các vị lãnh đạo có tên tuổi trong doanh nghiệp. Những người này nói rằng họ thích trải nghiệm lướt Web và multimedia của iPhone, nhất là việc thao tác trên chiếc điện thoại này rất dễ dàng. Điều này làm người ta nhớ lại quãng thời gian tiếp cận doanh nghiệp của BlackBerry trước đây -cũng diễn ra một cách tương tự.
Tại công ty phần mềm phân tích doanh nghiệp SAS, chính John Sall – sáng lập công ty này là người đầu tiên yêu cầu bộ phận IT hỗ trợ iPhone khi chiếc smartphone được giới thiệu lần đầu năm 2007. Khi phiên bản mới hơn của iPhone ra mắt năm 2008, nó đã được bổ sung thêm phần mềm đồng bộ ActiveSync giúp các phòng ban IT có thể kết nối dễ dàng với thiết bị hơn thông qua Microsoft Exchange. SAS là một trong số ít doanh nghiệp cho phép nhân viên có thể thoải mái lựa chọn giữa các thiết bị BlackBerry, Windows Mobile hoặc iPhone cho công cụ làm việc. Tính cho tới nay, SAS đang có 1000 người dùng BlackBerry, 100-200 người dùng iPhone, và 50-100 dùng Windows Mobile.
Ngành công nghệ không phải là lĩnh vực đầu tiên chấp nhận rộng rãi iPhone. Một số lĩnh vực khác như giao thông, giải trí, bán lẻ, nghiên cứu khoa học cũng bắt đầu sử dụng chiếc smartphone này. iPhone thậm chí còn trở thành vật dụng không thể thiếu của bác sĩ. Trong nhiều năm qua, bác sĩ Zach Hettinger tại Rochester, New York luôn có một chiếc điện thoại thông thường và một chiếc Palm để chứa thông tin về dược phẩm. Tuy nhiên, kể từ khi có iPhone, Zach Hettinger quyết định chỉ dùng duy nhất chiếc điện thoại này bởi nó có thể đảm bảo tốt đồng thời hai chức năng đàm thoại và lưu trữ dữ liệu.
Vẫn còn nhiều gian truân
Tuy nhiên, cũng theo Ted Schadler, không phải công ty nào cũng sử dụng iPhone, và chiếc smartphone này vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi trong một số ngành công nghiệp nhất định, chẳng hạn như ngành ngân hàng và bảo hiểm. Rất nhiều công ty chưa quyết định có cho phép nhân viên của họ sử dụng iPhone tại nơi làm việc hay không. Tháng 7/2007, Giám đốc thông tin hãng hàng không American Airlines, Monte Ford, tuyên bố rằng công ty của ông sẽ không hỗ trợ iPhone vì những lo ngại về bảo mật. Tới nay thì chiếc điện thoại vẫn rất chật vật khi tìm cách thâm nhập vào công ty này.
Những doanh nghiệp không hỗ trợ iPhone đều có có một số lý do nhất định. Theo cuộc khảo sát của Antenna Software năm 2009, thì 49% doanh nghiệp khi được hỏi nói rằng trở ngại lớn nhất chính là việc iPhone chỉ hoạt động duy nhất trong một mạng di động AT&T tại Mỹ. 40% doanh nghiệp nói rằng họ lo ngại về chi phí hỗ trợ thiết bị di động khác sẽ tăng. Khoảng 1/3 số người được hỏi muốn có các công cụ quản lý thiết bị di động tốt hơn, mà về mặt này Apple chưa bao giờ có thế mạnh.
doanhnhan360.com
Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009
Marketing thời 3G
Dự kiến công nghệ viễn thông di động thế hệ thứ 3 (công nghệ 3G) sẽ được đưa vào sử dụng tại Việt Nam trong tháng 6/2009. Người sử dụng điện thoại di động tại Việt Nam sẽ được cung cấp các dịch vụ di động tốc độ cao, tiên tiến, kéo theo sự xuất hiện nhiều dịch vụ mới, đặc biệt sẽ cung cấp cho các nhà tiếp thị và quảng cáo trong nước một kênh mới để tiếp cận với người tiêu dùng.
Số lượng người sử dụng điện thoại di động tại Việt Nam hiện cao hơn nhiều so với các nước và vùng lãnh thổ đang phát triển lân cận: 74% người dân Tp.HCM và Hà Nội sở hữu một chiếc điện thoại di động. Con số này gây ngạc nhiên khi so sánh với Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Theo nghiên cứu Mobile Insights của Nielsen, gần 1/3 dân số Ấn Độ và dưới một nửa dân số của Trung Quốc hiện đang sở hữu một chiếc điện thoại di động.
Lý giải điều này, ông Aaron Cross, Tổng giám đốc Nielsen Việt Nam cho rằng, Việt Nam là một quốc gia trẻ với 54% dân số dưới độ tuổi 25 và người trẻ hiện đang rất khát khao các công nghệ mới và luôn cập nhật với các xu hướng mới nhất. “Họ tương tác với nhau trực tuyến, do vậy không lạ khi tỉ lệ truy cập Internet ở Việt Nam cũng cao hơn rất nhiều so với các quốc gia lân cận khác.
24% người Việt Nam (khoảng gần 20 triệu người) thường xuyên truy cập Internet so với 22% của Trung Quốc”, ông Aaron Cross cho biết. Hơn nữa, thu nhập hộ gia đình của người Việt Nam cũng đang tăng dần, điều này sẽ làm tăng sức tiêu thụ hàng hóa tiêu dùng và các dịch vụ trong đó phải kể đến là điện thoại di động và Internet.
Thị trường đầy triển vọng
Mặc dù kinh tế thế giới đang lâm vào suy thoái, nhưng người tiêu dùng Việt Nam vẫn khá lạc quan về viễn cảnh tương lai của đất nước cũng như triển vọng của nền kinh tế thế giới. Và sẽ không có gì quá ngạc nhiên nếu như các sản phẩm công nghệ sẽ “cất cánh” tại thị trường Việt Nam.
Theo khảo sát của Nielsen về mức độ tự tin của người tiêu dùng 2008, sau khi thanh toán hoá đơn, người tiêu dùng Việt Nam thường dùng số tiền nhàn rỗi của mình trước hết để khám phá các công nghệ mới. Các nhà phát triển dịch vụ 3G do vậy hoàn toàn có thể trông đợi về sự tiếp nhận to lớn dành cho công nghệ mới này từ phía người tiêu dùng Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, cácnhà cung cấp mạng di động đạt chuẩn để cung cấp dịch vụ 3G tại Việt Nam mới đây đã cam kết đầu tư tổng vốn 2 tỉ USD trong 3 năm đầu với hơn 30.000 trạm truyền tín hiệu trên cả nước – ngang bằng với số lượng trạm phát sóng di động hiện nay.
Thị trường công nghệ 3G trên toàn thế giới được tiên đoán sẽ mang lại khoảng 41% tổng giá trị của thị trường công nghệ mạng không dây đến năm 2010. Công nghệ 3G tại châu Á đang trong quá trình phát triển.
Tính đến cuối năm 2006, Nhật Bản là quốc gia hàng đầu khi có hơn 50% người thuê bao sử dụng công nghệ 3G; còn Hàn Quốc chiếm vị trí thứ 2. Theo Wireless Technology, tại các quốc gia khác như Philippines, Malaysia và Indonesia... có xấp xỉ khoảng 10% thuê bao sử dụng công nghệ 3G.
Công nghệ 3G chỉ cần 5 năm để đạt được mức thị phần lớn như hiện tại; và người ta chắc hẳn sẽ thấy một xu hướng tương tự như thế tại Việt Nam trong một vài năm tới.
Định vị người dùng
Kết quả báo cáo của dự án Mobile Insights Việt Nam 2008 do Công ty Nielsen thực hiện cho thấy việc sử dụng điện thoại di động đang được mở rộng ở tất cả các lứa tuổi và tất cả các nhóm nhân khẩu học, nhưng có phần nghiêng về nhóm tuổi 25-34. Hầu hết những người dùng điện thoại di động ở Việt Nam đều nói rằng họ sử dụng điện thoại di động cho công việc và chi phí dưới 200.000 đồng/tháng.
Như dự đoán, những khách hàng trẻ tuổi và có thu nhập khá sẽ sử dụng điện thoại di động với những mục đích cao cấp hơn cả tin nhắn SMS, tải nhạc chuông, nhạc và hình nền – vốn là đại diện cho những dịch vụ dữ liệu được sử dụng phổ biến.
Đàn ông Việt Nam sử dụng điện thoại di động nhiều hơn phụ nữ, trung bình mỗi tuần họ có 20 phút gọi đi, ba cuộc gọi và tin nhắn SMS/ngày, và một cuộc gọi quốc tế mỗi tháng. Điều này còn khá khiêm tốn so với những nước phát triển. Ở Mỹ, những người trong độ 13-17 tuổi với một chiếc điện thoại iPhone gửi trung bình khoảng 33 tin nhắn/ngày.
Việt Nam còn phải đi thêm một chặng đường nữa để đạt đến con số này, nhưng việc các hóa đơn điện thoại gia tăng của những người nghiện tin nhắn là rất tiềm năng trong một vài năm tới, đặc biệt là với sự ra đời của 3G.
Những người sử dụng điện thoại di động ở Việt Nam nói chung được chia làm 4 nhóm khách hàng: người bảo thủ, người quan tâm về giá, người theo mốt hay người gây ảnh hưởng. Thị trường lớn nhất thuộc về những nhóm những người lớn tuổi (35-54 tuổi) hay quan tâm về giá (30%).
Những khách hàng này thường có xu hướng gia đình và tìm kiếm những điện thoại di động giá rẻ và đáng tin tưởng chỉ để gọi điện và gửi tin nhắn. Tuy nhiên, khoảng 20-22% người sử dụng điện thoại di độnglà những người theo mốt và những người gây ảnh hưởng, và những khách hàng này quan tâm nhiều nhất đến thương hiệu, hình ảnh, sự nổi tiếng và những công nghệ tiên tiến.
Thâm nhập thị trường
Sự thay đổi công nghệ từ 2G đến 3G sẽ làm thay đổi các nhu cầu của khách hàng và mở ra một phạm vi hoàn toàn mới cho công nghệ di động ở Việt Nam. Hiện nay không chỉ những hệ thống điện thoại di động mà các thành viên là nhà cung cấp băng thông rộng cũng có thể cung cấp dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao. Họ có thể là thành viên của ngân hàng, nhà cung cấp thẻ tín dụng và các công ty khác thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cũng như những người làm quảng cáo hoặc tiếp thị.
“Với ngành tiếp thị và truyền thông đại chúng vẫn đang phát triển nhanh chóng, 3G sẽ cung cấp một cách thâm nhập mới cho những người làm tiếp thị, không chỉ để tiếp cận khách hàng theo diện rộng, mà còn tiếp cận các khách hàng mục tiêu”, ông Cross nhấn mạnh.
Theo Nielsen, hầu như 50% người sử dụng điện thoại di động nhận được quảng cáo thông qua tin nhắn mỗi tháng, và đa số các quảng cáo này đều được khách hàng đọc. Một phần tư trong số những người đọc tin nhắn đã trả lời bằng cách gửi các tin nhắn này đến những người khác, trả lời bằng tin nhắn SMS một cách trực tiếp, hoặc rút thăm...
Các quảng cáo bằng tin nhắn thông qua điện thoại di động tiếp tục gia tăng một cách khác biệt ở châu Á. Vào thời điểm khi mà chi phí cho việc quảng cáo đang được tất cả các công ty toàn cầu xem lại, công nghệ di động đã cung cấp một mức phí hiệu quả trung bình cho những người làm tiếp thị để tiếp cận trực tiếp khách hàng của họ. Với sự có mặt của công nghệ 3G, người làm tiếp thị có thể liên hệ với khách hàng thông qua điện thoại di động không chỉ bằng tin nhắn mà có thể dùng Internet, điện thoại, tivi.
Không nghi ngờ gì nữa, những người thích công nghệ cao ở Việt Nam sẽ hiểu được những ưu việt của 3G ngay khi công nghệ này được cung cấp. “Với thị trường trẻ và có hiểu biết, việc mua hàng qua mạng sẽ bùng nổ và việc quảng cáo sử dụng công nghệ mới sẽ là chìa khóa dẫn đến thành công cho thương hiệu của doanh nghiệp trong tương lai gần và xa”, ông Cross nhấn mạnh.
* Tác giả bài viết làm việc tại Công ty Nielsen Việt Nam
(Nguồn: vneconomy.vn)
Thứ Tư, 6 tháng 5, 2009
5 cách làm marketing tiết kiệm
1. Liên kết – Buôn có bạn, bán có phường
Liên kết là một xu hướng quan trọng của thế giới hiện nay, liên kết thường đem lại lợi thế khi chia sẻ mạng lưới phân phối, các chi phí marketing. Riêng trong lĩnh vực dịch vụ tiếp thị, PR, quảng cáo hiện nay cũng đã bắt đầu xuất hiện xu hướng liên kết giữa những công ty thực hiện các công đoạn khác nhau của một chiến dịch tiếp thị để đưa ra giải pháp tích hợp vừa trọn gói, vừa chuyên nghiệp cho khách hàng. Đó là kiểu liên kết “xuôi dòng nước”, gồm công ty tư vấn chiến lược, nghiên cứu thị trường, dịch vụ marketing, quảng cáo và PR. Chưa vội đánh giá hiệu quả của kiểu liên kết này, nhưng nói một cách ví von, nếu như khả năng tiếp cận thị trường của mỗi công ty là một tấm lưới và nếu như ghép nhiều tấm lưới lại với nhau thì khả năng bắt được nhiều cá hơn hoặc cá to hơn là điều có thể thấy được. Tuy nhiên, đây là một tấm lưới ghép nên điểm yếu và điểm mạnh cũng nằm ở ngay các điểm nối. Nếu một trong những tấm lưới có “chất lượng” không tương xứng với những tấm còn lại thì độ bền tấm lưới lớn cũng bị giảm dần theo thời gian, việc hợp tác giữa các đối tác khác nhau đòi hỏi phải có sự sàng lọc để đảm bảo tính tương thích với thị trường và bản thân mối liên kết.
2. Tận dụng một số công cụ PR/Quảng cáo ít tốn kém:
Hãy là người dẫn đầu: Để tốn ít chi phí quảng bá hãy là người đầu tiên trong một lĩnh vực nào đó. Trung Nguyên đã tận dụng tối đa chiêu này khi xuất hiện trên khắp các mặt báo để trả lời những câu chuyện liên quan đến nhượng quyền thương hiệu, cà phê.
Đánh trúng mục tiêu chính: Để không lãng phí tiền, hãy đánh trúng mục tiêu. Quy luật 80/20 luôn hoạt động tốt. Cac chiến dịch của những tập đoàn hàng đầu thế giới luôn đánh vào một nhóm khách hàng mục tiêu cụ thể: theo giới tính, độ tuổi, khu vực địa lý...
Tập trung vào khách hàng cũ: Các nghiên cứu tiếp thị cho thấy, chi phí để tiếp cận một khách hàng mới thông thường cao hơn từ 5 đến 15 lần chi phí duy trì một khách hàng đã có sẵn. Thông thường, các doanh nghiệp có thói quen đi tìm khách hàng mới nhiều hơn giữ quan hệ tốt với khách hàng cũ. Nếu bạn muốn tiết kiệm chi phí, hãy từ bỏ sở thích xa xỉ này. Nói một cách hình tượng, tương ứng với chi phí, ta cần phải ưu tiên khách hàng cũ gấp 10 lần khách hàng mới. Việc quan trọng nhất ở đây là xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu khách hàng. Khi đã có cơ sở dữ liệu này trong tay, sẽ có vô số cách để tận dụng nó như: gưi thư trực tiếp, thiệp chúc mừng trong dịp đặc biệt, thông báo giảm giá, điểm ưu tiên cho thành viên, thăm dò ý kiến cho sản phẩm mới... Chúng ta có thể dễ dàng thấy những thành công của cách làm này tại hệ thống Co.op Mart.
Liên tục đưa ra những lý do để khách hàng quay lại: Các siêu thị ở Nhật thường có cách thức giống nhau để thu hút khách hàng cũ quay lại cửa hàng. Mỗi tuần, họ lại giảm giá vài mặt hàng khác nhau và thay đổi các mặt hàng giảm giá liên tục. Khách hàng khó cưỡng lại việc quay lại siêu thị để có những khoản giảm giá cho các nhu cầu khác của họ. Và khi đến cửa hàng, ngoài những sản phẩm giảm giá họ còn mua thêm các sản phẩm khác do tiện dịp mua sắm.
Tận dụng “cây nhà lá vườn”: Dùng chính sản phẩm của doanh nghiệp để làm quà tặng khách hàng sẽ tiết kiệm chi phí đáng kể vì chỉ phải tặng sản phẩm với “giá vốn”. Nếu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bạn đòi hỏi phải có đôi chút kiến thức mới sử dụng được thì hãy in những quyển sách nhỏ để hướng dẫn chuyên môn. Làm trước khi đối thủ thực hiện có thể gây thiện cảm với khách hàng mà không tốn nhiều chi phí. Khéo léo hơn, có thể tạo ra các sản phẩm một cách sáng tạo, độc đáo để thu hút sự chú ý của khách hàng.
Chẳng hạn như trường hợp của gốm sứ Minh Long với cúp Rồng Việt và chiếc võng xếp Duy Lợi khổng lồ được đem bán đấu giá trong chương trình truyền hình trực tiếp của VTV gần đây với giá “ngất ngưởng”. Hiện nay, mỗi ngày có đến hàng ngàn người tham quan chiếc võng này của Duy Lợi tại Công viên Văn hóa Đầm Sen.
3. Tiếp thị truyền miệng: nhanh, bổ, rẻ
Theo một nghiên cứu gần đây của Ban tổ chức Hàng Việt Nam Chất lượng cao thì hình thức “truyền miệng thông qua người quen” là kênh thông tin chiếm đến 19,04% trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người mua hàng. Yếu tố người quen giới thiệu chỉ đứng sau quảng cáo và kinh nghiệm của bản thân người mua.
Ngoài ưu điểm lan truyền nhanh, chi phí thấp thì tiếp thị truyền miệng có thể gặp rủi ro khi thông tin truyền đi bị sai lạc hoặc theo những diễn tiến không lường trước được. Tiếp thị truyền miệng còn được dùng như một vũ khí để tấn công đối thủ.
4. Chiến thắng tại cửa hiệu
Trong bối cảnh hiện nay, mỗi ngành hàng đều có rất nhiều nhãn hiệu cạnh tranh nhau khốc liệt với trong cùng một phân khúc. Các nhãn hiệu này chỉ hơn nhau một khoảnh khắc, khi người tiêu dùng quyết định chọn mua nhãn hiệu này chứ không phải nhãn hiệu kia. Dân trong nghề gọi cái khoảng khắc vàng ấy là the first moment of truth. Theo điều tra 80% quyết định mua hàng của người tiêu dùng xảy ra tại cửa hiệu, chứ không phải khi người ta thấy quảng cáo ở trên báo đài hoặc khi nghe bạn bè nói. Điều này giúp các nhãn hiệu nhỏ không có khả năng quảng cáo rộng rãi trên báo đài vẫn có cơ hội bán được hàng, nếu họ biết tập trung để chiến thắng tại cửa hiệu.
5. Tiếp thị trực tiếp: Bắn trúng đích ngắm
Tiếp thị trực tiếp là một trong những hình thức đã được các công ty, nhãn hàng lớn thực hiện xen kẽ và rất thường xuyên tại Việt Nam như các sản phẩm về bảo hiểm, bất động sản, ôtô, dịch vụ viễn thông, mỹ phẩm…
Cũng có người cho rằng đây là hình thức không tiết kiệm, vì phần lớn khách hàng khi bắt gặp brochure, quà tặng hay bất cứ vật phẩm quảng cáo nào khác thường vứt qua một bên, và như vậy xem như số tiền dành cho việc in ấn, sản xuất những vật phẩm trên không còn mấy hiệu quả. Tuy nhiên, nếu xác định mục đích rõ ràng và có chiến lược thị trường tập trung cụ thể, thì phương thức này sẽ đem lại hiệu quả cao, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hai lợi điểm cốt lõi trong khi thực hiện là: sản phẩm được giới thiệu một cách rõ ràng, cụ thể và sản phẩm được đưa đến đúng đối tượng có nhu cầu.
Sưu tầm từ Forum của Vina Map